Không tìm thấy địa chỉ bị đơn đều đình chỉ vụ án

Qua quá trình kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cùng cấp, tôi nhận thấy rằng trên thực tế có rất nhiều vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật dẫn đến tình trạng pháp luật không được áp dụng thống nhất và triệt để trên thực tế. Nhiều quy định của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự chưa rõ ràng, còn chung chung nên gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng khi áp dụng pháp luật. Ngoài ra đôi lúc còn có sự chủ quan, tùy tiện của những người tiến hành tố tụng trong áp dụng, thi hành các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Chính những điều trên đã gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tôi xin đưa ra vấn đề sau để cùng nhau trao đổi, góp ý kiến, bình luận để có câu trả lời đúng cho những vướng mắc đó, cụ thể:


Ngày 28.6.2012, giữa Ngân hàng TMCP X, thành phố N và Công ty TNHH Z, thành phố Đà Nẵng có ký hợp đồng vay tài sản trên 02 tỷ, thời hạn vay là 06 tháng, mục đích là bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất hai bên thỏa thuận không trái quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, Công ty TNHH Z đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP X khởi kiện ( người đứng đơn kiện là Ngân hàng TMCP X) yêu cầu Công ty TNHH Z trả số tiền trên, cùng lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận, đồng thời xử lý tài sản thế chấp nếu Công ty TNHH Z, quận Y, thành phố N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Ngày 11.4.2013, Tòa án nhân dân quận Y, thành phố N thụ lý đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP X, sau đó Tòa án nhân dân quận Y ra thông báo yêu cầu Ngân hàng TMCP X cung cấp địa chỉ của Công ty TNHH Z do Tòa án nhân dân quận Y đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho Công ty TNHH Z với địa chỉ mà Ngân hàng TMCP X đã cung cấp trước đó nhưng không thể tống đạt được.

Ngày 24.4.2013, Ngân hàng TMCP X có công văn gửi Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân với ý kiến : Theo quy định tại Điều 18 hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký thì Bên được cấp tín dụng cam kết nơi cư trú nêu tại các hợp đồng cấp tín dụng là nơi cú trú hợp pháp hiện nay của Bên được cấp tín dụng. Đây là địa chỉ Ngân hàng gửi tất cả các văn bản, tài liệu giao dịch trong quá trình thực hiện hợp đồng này và cơ quan nhà nước có thẩm quyền gửi thư mời, thông báo, tống đạt, niêm yết công khai nhằm yêu cầu Bên được cấp tín dụng thực hiện nghĩa vụ của mình với ngân hàng. Bên được cấp tín tụng phải thông báo cho Ngân hàng, cơ quan địa phương về sự thay đổi địa chỉ thường trú, địa chỉ tạm trú hoặc nơi cư trú mới và Điều 19 hợp đồng có ghi: Trong quá trình thực hiện hợp đồng này, nếu có tranh chấp, các bên sẽ thỏa thuận, thương lượng. Trường hợp không thể giải quyết bằng thỏa thuận, thương lượng thì tranh chấp sẽ do Tòa án nhân dân nơi Ngân hàng có trụ sở hoặc Tòa án nhân dân do Ngân hàng lựa chọn giải quyết.

Trường hợp bên được cấp tín dụng vi phạm nghĩa vụ thông báo về sự thay đổi địa chỉ thường trú, nơi cư trú mới theo quy định tại Điều 18 trên hoặc đã gạch tên khỏi hộ khẩu hoặc xuất cảnh quá 06 tháng mà không thông báo địa chỉ, nơi cú trú mới, Bên được cấp tín dụng được xem là dấu địa chỉ nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp này, nơi cư trú nêu tại hợp đồng tín dụng là nơi cư trú cuối cùng của Bên được cấp tín dụng. Ngân hàng được quyền yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, Bên được cấp tín dụng, Bên được cấp tín dụng chấp nhận việc Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, kể cà trường hợp không lấy được lời khai của Bên được cấp tín dụng.

Trong khi đó tại đơn khởi kiện Nguyên đơn Ngân hàng đã ghi đầy đủ, cụ thể và đúng địa chỉ của bị đơn theo hợp đồng tín dụng và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Phòng đăng ký kinh doanh Đà Nẵng cấp là đúng với Điều 164 BLTTDS và Mục 1.4 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12.5.2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định.

Điều 35 BLTTDS quy định: “ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”

Còn Điều 35 Luật doanh nghiệp quy định: “ 1.Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có).
2. Doanh nghiệp phải thông báo thời gian mở cửa tại trụ sở chính với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Vào ngày 11.03.2013 Phòng đăng ký kinh doanh đã có công văn cung cấp thông tin doanh nghiệp của Công ty trên: Công ty TNHH Z, quận Y, thành phố N hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cấp ngày 14.08.2009, đăng ký thay đổi lần thứ 09 ngày 01.10.2012 thì địa chỉ trong đơn khởi kiện của nguyên đơn đúng với địa chỉ mà bị đơn đã đăng ký tại Phòng đăng ký kinh doanh.

Hơn nữa ngày 1.10.2012 Công ty TNHH Z thay đổi đăng ký kinh doanh lần thứ 09 gần với ngày Ngân hàng khởi kiện vụ án đến Tòa án; mà Điều 26 Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định: “ Khi thay đổi tên, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, mục tiêu và ngành, nghề kinh doanh, vốn điều lệ hoặc số cổ phần được quyền chào bán, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp, thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và các vấn đề khác trong nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi.”

Trong hồ sơ vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại tổ trưởng nơi bị đơn đặt trụ sở thì tổ trưởng đã xác nhận hiện Công ty TNHH Z không còn hoạt động tại trụ sở mà Công ty đã đăng ký trụ sở với Phòng đăng ký kinh doanh, dẫn đến ngày 10.06.2013 Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do Công ty TNHH Z không còn hoạt động tại địa chỉ mà nguyên đơn đã khởi kiện là không chính xác, không đúng quy định của pháp luật như đã phần tích trên, và Điểm 8.6 Mục 8 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12.05.2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Công văn số 109/KHXX ngày 30.06.2006 của Tòa án nhân dân tối cao quy định: “ Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung”

Tòa án chỉ có thể đình chỉ vụ án khi đã thụ lý vụ án trong trường hợp tại Điểm 8.5 Mục 8 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12.05.2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “ Trường hợp trong đơn khởi kiện không ghi đầy đủ cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì Toà án yêu cầu người khởi kiện ghi đầy đủ và đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu người khởi kiện không thực hiện, thì Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 169 của BLTTDS trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ mà không được thụ lý vụ án” Trên đây là quan điểm giải quyết vụ án của tôi nhưng các trường hợp này Tòa án đều Đình chỉ giải quyết vụ án dẫn đến các Ngân hàng rất khó thu hồi vốn đã cho các doanh nghiệp vay, hơn nữa tài sản các doanh nghiệp thế chấp ngân hàng vẫn không được giải quyết và xử lý triệt để theo pháp luật để đảm bảo các khoản vay. Nên cần phải có một hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để tránh tình trạng Ngân hàng ngại cho các Doanh nghiệp vay tài sản . Nếu bạn đọc có quan điểm giải quyết vụ án khác với quan điểm giải quyết của tôi thì cùng trao đổi, góp ý kiến để giải quyết vụ án được chính xác, đúng pháp luật.

Tác giả bài viết: Trần Nhã Minh Hoàng – VKS Hải Châu

URL của bản tin này: http://vksdanang.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Vu-an/KHONG-TIM-THAY-DIA-CHI-BI-DON-DEU-DINH-CHI-VU-AN-1515
© Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng
hoamoclan5@yahoo.com