Thúc đẩy hợp tác giữa cơ sở đào tạo luật và tổ chức hành nghề luật sư trong phát triển nguồn nhân sự ngành luật thương mại quốc tế chất lượng cao trong giai đoạn tiếp theo
Tham luận của ThS., LS. Nguyễn Thanh Hà - Phó Giám đốc thường trực Công ty Luật TNHH Vietthink tại Hội nghị tổng kết 5 năm đào tạo cử nhân ngành Luật TMQT do Trường Đại học Luật, ĐHQGHN đã tổ chức ngày 26/11/2025 tại thành phố Hà Nội.
Ảnh: Đại biểu chụp ảnh kỷ niệm
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa mạnh mẽ, Việt Nam đang kiến tạo vị thế tích cực, chủ động và trách nhiệm trong việc tham gia sâu và rộng hơn vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cùng hàng loạt hiệp định thương mại song phương với các nền kinh tế, đối tác thương mại lớn trên thế giới. Sự đa dạng, phức tạp và biến động không ngừng của thương mại quốc tế đòi hỏi bất kỳ quốc gia đang phát triển nào, đặc biệt là Việt Nam - quốc gia đạt hình mẫu tiêu biểu của thế giới về phát triển kinh tế, phải có nguồn nhân lực không chỉ am tường luật pháp mà còn phải sở hữu năng lực dự đoán, hành động tức thì, linh hoạt và năng động trong môi trường đầu tư, kinh doanh toàn cầu. Trong đó, rút ngắn khoảng cách giữa chất lượng lý thuyết và năng lực ứng dụng thực tiễn là một thách thức vô cùng lớn được đặt ra với nguồn nhân sự ngành luật thương mại quốc tế (TMQT) trong giai đoạn tới. Thách thức này đặc biệt gia tăng trong bối cảnh xuất hiện nhiều các lĩnh vực pháp lý mới có tính chất xuyên biên giới, đa quốc gia, đa khu vực như năng lượng tái tạo, chuyển đổi năng lượng, tín chỉ carbon, tài sản kỹ thuật số, dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo,… Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hợp tác về đào tạo, nghiên cứu và kiến tập với các doanh nghiệp, tổ chức hành nghề luật (TCHNLS) có uy tín, năng lực về đầu tư, TMQT là một giải pháp hữu hiệu để biến thách thức thành động lực và thế mạnh cạnh tranh của một số cơ sở đào tạo luật (CSĐT) như: Trường Đại học Luật - ĐHQG Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Ngoại thương,...
Ảnh: LS. Nguyễn Thanh Hà – Phó Giám đốc Vietthink phát biểu tại Hội nghị
Năm 2023, chúng tôi đã trình bày một nghiên cứu ngắn về nhu cầu nguồn nhân lực, yêu cầu về kỹ năng ngành luật TMQT tại Hội thảo quốc tế “Luật Thương mại quốc: Hiện tại và một thập kỷ tới” do Đại học Luật, ĐHQG Hà Nội tổ chức tại Hà Nội, trong đó đã chỉ ra nhu cầu cấp thiết và tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực pháp luật TMQT trong các lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội, và phân tích về nhu cầu này được đặt ra cho cả khu vực công, sự nghiệp, doanh nghiệp, lĩnh vực tư vấn, tranh tụng và các lĩnh vực khác. Chúng tôi đã đưa ra các giải pháp gợi ý nhằm thúc đẩy quy mô, chất lượng đào tạo nhân sự ngành luật TMQT, một trong số đó là cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa các phương thức và phương pháp đào tạo ngành luật TMQT theo phương châm gắn liền giữa đào tạo lý thuyết và thực tế, coi hợp tác giữa CSĐT với các đơn vị sử dụng lao động cũng là một bước đột phá nhằm gắn kết giữa đào tạo lý thuyết và thực hành, giữa nghiên cứu và ứng dụng, giữa năng lực đào tạo của các trường đại học và nhu cầu của thị trường theo đúng phương châm về đổi mới giáo dục đại học của Đảng và Nhà nước.
Sau nhiều năm hợp tác, tham gia vào công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành luật nói chung và luật TMQT nói riêng, đến thời điểm hiện nay, chúng tôi cho rằng mô hình hợp tác nêu trên đã, đang và sẽ phát huy hiệu quả cao trong việc phát triển nhân sự ngành luật TMQT trong giai đoạn tới. Đồng thời, tại Tham luận này, chúng tôi sẽ đưa ra một số đề xuất để thúc đẩy hiệu quả của mô hình hợp tác này trong tương lai.
1. Nhu cầu hợp tác phát triển nguồn nhân sự ngành luật TMQT chất lượng cao giữa CSĐT và TCHNLS
Thách thức rút ngắn khoảng cách giữa chất lượng lý thuyết và năng lực ứng dụng thực tiễn đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt khi xuất hiện ngày càng nhanh và nhiều các lĩnh vực pháp lý mới mang tính toàn cầu, xuyên biên giới và đang trong giai đoạn bất định như biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, kinh tế số, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu cá nhân và dòng dữ liệu xuyên biên giới, ... Đây không chỉ là vấn đề nội tại của giáo dục mà là sự xung đột về tốc độ đối mới và biến động của thị trường với tốc độ đổi mới pháp luật. Khung pháp lý quốc gia và quốc tế thường chậm hơn so với thực tiễn kinh doanh và công nghệ; Luật TMQT truyền thống chưa kịp thời tiếp cận và điều chỉnh được các quan hệ mới sâu rộng về kỹ thuật, kinh tế, môi trường và khoa học công nghệ.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các TCHNLS đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý thông thường. TCHNLS không chỉ là người dùng cuối của sản phẩm đào tạo từ các cơ sở giáo dục, mà còn là lực lượng trực tiếp trải nghiệm, áp dụng và cập nhật những thay đổi nhanh chóng của pháp luật quốc tế, các FTA thế hệ mới, BTA, thông lệ quốc tế và diễn biến thay đổi liên tục và phức tạp từ thực tiễn đầu tư, TMQT, cũng như khả năng chuyển hóa các quy tắc pháp lý phức tạp thành chiến lược tư vấn và giải quyết tranh chấp thực tiễn chính là giá trị cốt lõi mà TCHNLS mang lại cho hệ thống đào tạo.
Nghiên cứu năm 2023 của chúng tôi đã chỉ ra rằng, khoảng trống kỹ năng chuyên môn trong ngành luật TMQT là một vấn đề đã được nhìn nhận từ Đề án "Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập quốc tế" năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ, nhưng cơ chế đào tạo truyền thống, bao gồm cả các chương trình đào tạo nghiệp vụ luật sư về TMQT đến nay vẫn chủ yếu tập trung vào việc trang bị các kỹ năng chung và đáp ứng nhu cầu đủ về số lượng, thay vì đi sâu vào gỉai quyết vấn đề lấp đầy khoảng trống giữa lý thuyết và thực hành. Điều này dẫn đến thực trạng nhân sự tốt nghiệp ngành luật TMQT chưa thực sự đáp ứng được ngay nhu cầu của thị trường, phải mất thêm nhiều thời gian và chi phí để đào tạo chuyên sâu và thực hành luật; các TCHNLS không có nhiều sự lựa chọn về nhân sự đầu vào có sẵn mà gần như phải “đào tạo lại” về mặt thực tiễn cho nhân sự mới tốt nghiệp. Thực trạng này cho thấy, nếu các TCHNLS tham gia ngay từ quá trình đào tạo, giảng dạy cùng các CSĐT thì có thể tối ưu về chi phí, thời gian và thị trường sẽ có một nguồn nhân sự chất lượng, có khả năng thực hành luật nhanh và linh hoạt hơn. Hay nói cách khác, đối với TCHNLS, sự hợp tác này đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, giảm thiểu đáng kể chi phí và thời gian đào tạo lại. TCHNLS có thể tuyển dụng và cộng tác trực tiếp với nguồn nhân lực chất lượng cao đã được các CSĐT giới thiệu (đào tạo và tuyển dụng tại nguồn), là những nhân sự này đã được sàng lọc và có kinh nghiệm thực tế qua quá trình thực tập/kiến tập, giúp họ có khả năng làm việc ngay lập tức.
Qua khoảng thời gian hợp tác trong đào tạo nhân sự ngành luật nói chung, và đào tạo, phát triển ngành luật TMQT nói riêng giữa Công ty Luật TNHH Vietthink và Trường Đại học luật ĐHQG Hà Nội,chúng tôi tóm tắt hiệu quả của mô hình hợp tác như sau:
| Góc độ Đánh giá | Mục tiêu Chính | Kết quả Thực tiễn Đạt được | Minh chứng (Vietthink Model) |
| Người Dạy (CSĐT) | Thực tiễn hóa chương trình, nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu. | Chương trình đào tạo Luật TMQT được điều chỉnh theo hướng ứng dụng cao; Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học. | Luật sư Vietthink hỗ trợ hoàn thiện chương trình, phát triển tài liệu giảng dạy; Thường xuyên trao đổi, tham vấn lý luận và thực tiễn. |
| Người Học (Sinh viên) | Phát triển kỹ năng thực hành, tăng cường cơ hội nghề nghiệp và học bổng. | Được trang bị kỹ năng đàm phán, soạn thảo hợp đồng quốc tế; tư duy pháp lý thông qua ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn; Nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh pháp lý. | Tiếp nhận sinh viên thực tập/kiến tập chuyên sâu; Cơ hội học nghề, làm việc chuyên sâu với các luật sư TMQT; Cấp học bổng cho sinh viên xuất sắc. |
| Người Dùng (TCHNLS) | Đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, giảm chi phí đào tạo lại và thời gian thích nghi. | Tuyển dụng nhân sự có khả năng làm việc ngay; Xây dựng thương hiệu tuyển dụng chuyên nghiệp. | Tuyển dụng và cộng tác nguồn nhân lực chất lượng cao do Trường giới thiệu. |
Bằng quan sát và đánh giá của chúng tôi trong quá trình sử dụng nhân sự ngành luật và hợp tác với các CSĐT trong hơn một thập niên qua, chúng tôi nhận định về nhu cầu, xu hướng hợp tác giữa CSĐT và TCHNLS nhằm nâng cao chất lượng nhân sự ngành luật TMQT trong giai đoạn từ 2025-2030 được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, về lĩnh vực chuyên môn, nhu cầu về nhân sự luật TMQT chất lượng cao được thúc đẩy bởi hai động lực chính là hội nhập sâu rộng và sự phát triển vượt bậc của kinh tế số. Việt Nam cần đội ngũ luật sư không chỉ nắm vững kiến thức về TMQT, khả năng đối phó với kiện tụng trong TMQT, khả năng dự đoán, thích ứng với thị trường pháp lý mới gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin và các giao dịch xuyên biên giới. Việt Nam cần đội ngũ luật sư “thiện chiến” trong khả năng giải quyết tranh chấp quốc tế, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về quy tắc tố tụng quốc tế, khả năng áp dụng linh hoạt luật của nhiều quốc gia khác nhau, và kỹ năng tố tụng chuyên nghiệp.
Hai là, về đa kỹ năng chiến lược, trong môi trường kinh doanh toàn cầu, thành công của nhân sự ngành luật TMQT không chỉ phụ thuộc vào kiến thức pháp luật thuần túy mà còn đòi hỏi một bộ kỹ năng chiến lược đa dạng. Nhân sự ngành luật TMQT cần phải sở hữu kỹ năng đàm phán linh hoạt, khả năng giao tiếp đa văn hóa, am hiểu sâu sắc về thông lệ kinh doanh quốc tế. Hơn nữa, với sự phức tạp của các giao dịch xuyên biên giới, các kỹ năng tư duy pháp lý, hợp tác quốc tế, làm việc nhóm, xu hướng thị trường, kiến thức về kinh tế, chính trị là những yếu tố sống còn để đạt được hiệu quả tối đa.
Ba là, về chuẩn mực kỹ năng cho nhân sự ngành luật TMQT trong tương lai, các TCHNLS (người sử dụng và thụ hưởng nguồn nhân sự) cần hợp tác với CSĐT trong việc xây dựng chân dung, khung năng lực mà thị trường cần ở nhân sự ngành luật TMQT, bao gồm: các kiến thức cốt lõi, các kỹ năng thực hành chuyên sâu, các kỹ năng hỗ trợ chiến lược (ngoại ngữ, ngoại ngữ chuyên ngành pháp lý, công nghệ,...).
2. Đề xuất định hướng, các mô hình và sáng kiến hợp tác
a. Định hướng chiến lược hợp tác giữa TCHNLS và CSĐT cho giai đoạn tiếp theo:
Trong giai đoạn tới, các CSĐT và TCHNLS có thể nghiên cứu và lựa chọn thêm các định hướng sau:
Một là, chuyển dịch có lộ trình sang mô hình đào tạo tích hợp nghề: Sự hợp tác giữa CSĐT và TCHNLS không nên chỉ giới hạn ở việc thực tập mà phải tiến tới việc đồng thiết kế chương trình và đồng chịu trách nhiệm về chất lượng đầu ra. TCHNLS phải tham gia sâu vào việc xây dựng khung chương trình và cung cấp đội ngũ luật sư hành nghề làm giảng viên bán thời gian, áp dụng mô hình giảng dạy dựa trên thực tiễn. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này cần có lộ trình bởi nó đòi hỏi phải có sự tham gia rất tích cực của nhiều TCHNLS có năng lực và ý thức được vai trò, ý nghĩa của mối quan hệ hợp tác này trong phát triển nhân sự ngành luật TMQT. Mô hình này cũng là một thách thức đối với chính các TCHNLS bởi họ phải bố trí nguồn lực (cả về con người, chi phí và thời gian) để tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo với các CSĐT.
Hai là, thiết lập cơ chế đảm bảo chất lượng kép: Chất lượng của nhân sự ngành luật TMQT sẽ được thẩm định bởi cả hai bên: CSĐT (đánh giá lý thuyết nền tảng) và TCHNLS (đánh giá kỹ năng thực hành và ứng dụng). TCHNLS cần tham gia vào quá trình đánh giá kỹ năng thông qua các kỳ thi mô phỏng vụ kiện, diễn án hoặc đồ án tốt nghiệp chuyên sâu, đảm bảo học viên đáp ứng được chuẩn mực hành nghề quốc tế. Cơ chế nào tạo ra tính hấp dẫn về thu hút người học tới chính các CSĐT và thu hút nhân sự chất lượng cao cho chính TCHNLS. Từ đó, tạo ra động lực cho người học, xác nhận chuẩn đầu ra của cơ chế này cho phép nhân sự tốt nghiệp ngành luật TMQT dễ dành tìm kiếm các công việc, môi trường có chất lượng cao và khả năng tham gia ngay vào thị trường pháp lý mà không phải mất thêm thời gian, chi phí tham gia thêm các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng hành nghề.
Ba là, chuyên môn hóa sâu theo yêu cầu thị trường mới: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, công nghiệp công nghệ thông tin biến đổi không ngừng, kiến thức pháp lý thuần túy sẽ dễ bị tự động hóa. Do đó,hợp tác phải tập trung vào việc phát triển tư duy chiến lược, khả năng phân tích rủi ro phức tạp và năng lực hợp tác đa lĩnh vực - những kỹ năng khó bị thay thế bởi công nghệ. Các chương trình đào tạo cần chuyên sâu hóa vào các lĩnh vực có nhu cầu đột phá như kinh tế số, tài sản số, sở hữu trí tuệ, giao dịch thương mại và tài chính xuyên biên giới, tranh chấp quốc tế, tranh chấp quốc tế, ...
b. Một số mô hình và sáng kiến hợp tác cụ thể:
Đề xuất dưới đây nhằm mục đích hệ thống hóa, chuyên nghiệp hóa và nâng cao quy mô của các hoạt động hợp tác mà chúng tôi cho rằng sẽ phát huy được hiệu quả trong phát triển nguồn nhân sự ngành luật TMQT chất lượng cao:
Một là, hợp tác trong xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo, bao gồm: triển khai chương trình đào tạo chuyên biệt và lồng ghép các mô-đun về kỹ năng thực hành. Chúng tôi cho rằng với thời gian đào tạo có giới hạn ở cấp cử nhân, việc đặt kỳ vọng về đầu ra của nhân sự đáp ứng ngay nhu cầu của thị trường là bất khả thi mà cần có các chương trình chuyên biệt (có thể áp dụng cho cả cấp đào tạo đại học và sau đại học). Các chương trình chuyên biệt này cần có sự tham gia giảng dạy hoặc tập huấn của các luật sư hành nghề trong lĩnh vực TMQT từ TCHNLS có kinh nghiệm lâu năm. Các chương trình chuyên biệt này có thể được tổ chức giảng dạy tại CSĐT hoặc thành các lớp/khóa chuyên sâu tại các địa điểm tập trung khác. Các mô-đun bắt buộc phải tập trung vào kỹ năng chuyên sâu như soạn thảo hợp đồng quốc tế phức tạp, tiếp cận chính sách và pháp luật quốc tế trong các lĩnh vực mới, quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế, phân tích án lệ thực tế từ ICC, SIAC,... Trong các mô hình đào tạo chuyên sâu kết hợp này, giảng viên (là luật sư, chuyên gia tư vấn thực tiễn lâu năm) cam kết sẽ đưa vào chương trình các hồ sơ vụ việc thực tế và thường xuyên cập nhật các hồ sơ này để đảm bảo tính thích ứng và sát với nhu cầu của thị trường, tạo tính hấp dẫn và thực tiễn trong đào tạo ứng dụng.
Hai là, hợp tác thực hiện cơ chế thực hành và tuyển dụng có chiều sâu: Mô hình kiến tập đã bước đầu phát huy được hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân sự ngành luật TMQT, nhưng vẫn cần tiếp tục nâng cấp lên thực tập chiến lược, tức là học viên được phân loại để phân công vào các nhóm pháp lý thực tế của TCHNLS, được tham gia trực tiếp vào các giai đoạn của một vụ việc cụ thể. Để làm được điều này, giữa TCHNLS, CSĐT và người học tham gia kiến tập cần có các cam kết cụ thể về đào tạo, đồng hành (tuyển dụng, làm việc). Sự hợp tác này cũng đòi hỏi tính minh bạch cao và tương tác thường xuyên giữa TCHNLS, CSĐT và người học, nhưng nó tạo ra cơ hội và lợi ích cho cả ba bên. Đối với TCHNLS, đây có thể xem là một hình thức đào tạo và tuyển dụng tại nguồn; đối với CSĐT, phương thức này tạo ra sự gắn kết và trách nhiệm bắt buộc của các TCHNLS trong việc hợp tác đào tạo nhân sự chất lượng cao; còn đối với người học, phương thức này là cơ hội cho họ được thụ hưởng chất lượng đào tạo có tính lý luận chuyên sâu kết hợp với ứng dụng cao và cũng được đảm bảo cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.
ThS.,LS. Nguyễn Thanh Hà - Phó Giám đốc Thường trực Công ty Luật TNHH Vietthink.